Giải Toán 11 – Công thức cộng xác suất

giai-toan11 (1)

Chuyên đề xác suất là một trong những nội dung quan trọng nhưng cũng dễ gây nhầm lẫn cho học sinh lớp 11 nếu không nắm chắc bản chất. Đặc biệt, công thức cộng xác suất thường xuất hiện nhiều trong các bài kiểm tra và đề thi. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ lý thuyết, và rèn luyện kỹ năng giải Toán 11 qua các bài tập minh họa chi tiết.

Lý thuyết công thức cộng xác suất

1. Công thức cộng xác suất cho hai biến cố xung khắc

a) Biến cố xung khắc

Biến cố A và biến cố B được gọi là xung khắc nếu biến cố này xảy ra thì biến cố kia không xảy ra.

b) Công thức cộng xác suất cho hai biến cố xung khắc

Nếu A và B là hai biến cố xung khắc thì P(A ∪ B) = P(A) + P(B).

 

2. Công thức cộng xác suất

Cho hai biến cố A và B. Khi đó, ta có: P (A ∪ B) = P(A) + P(B) − P(AB).

Công thức này được gọi là công thức cộng xác suất.

giai-toan11 (2)
Học sinh luyện thi Toán lớp 11 tại Tự học 123.vn

Hướng dẫn giải Toán 11 chuyên đề công thức cộng xác suất

Bài 1: 

Ở một trường trung học phổ thông X, có 19% học sinh học khá môn Ngữ văn, 32% học sinh học khá môn Toán, 7% học sinh học khá cả hai môn Ngữ văn và Toán. Chọn ngẫu nhiên một học sinh của trường X. Xét hai biến cố sau:

A: “Học sinh đó học khá môn Ngữ văn”;

B: “Học sinh đó học khá môn Toán”.

a) Hoàn thành các mệnh đề sau bằng cách tìm cụm từ thích hợp thay cho dấu “?”.

P(A) là tỉ lệ …(?)…

P(AB) là…(?)…

P(B) là …(?)…

P(A ∪ B) là …(?)…

b) Tại sao để tính P(∪ B) ta không áp dụng được công thức P(A ∪ B) = P(A) + P(B)?

 

Phương pháp giải:

– Cho A và B là hai biến cố. Biến cố: “A hoặc B xảy ra” được gọi là biến cố hợp của A và B, kí hiệu là A ∪ B.

– Cho A và B là hai biến cố. Biến cố: “Cả A và B đều xảy ra” được gọi là biến cố giao của A và B, kí hiệu AB.

– Nếu A và B là hai biến cố xung khắc thì P(A ∪ B) = P(A) + P(B)

Lời giải chi tiết:

a) P(A) là tỉ  lệ học sinh học khá môn Ngữ văn trong tổng số học sinh của trường X

P(B) là tỉ lệ học sinh học khá môn Toán trong tổng số học sinh của trường X

P(AB) là tỉ lệ học sinh học khá cả hai môn Ngữ văn và Toán trong tổng số học sinh của trường X

P(A ∪ B) là tỉ lệ học sinh học khá ít nhất một trong hai môn Ngữ văn và Toán trong tổng số học sinh của trường X

 

b) Ta không áp dụng được công thức P(A ∪ B) = P(A) + P(B) vì hai biến cố A và B không xung khắc với nhau do học sinh học khá môn Ngữ Văn có thể cũng học khá môn Toán (7% học sinh học khá cả hai môn Ngữ văn và Toán).

 

Bài 2:

Một hộp đựng 8 viên bi màu xanh và 6 viên bi màu đỏ, có cùng kích thước và khối lượng. Bạn Sơn lấy ngẫu nhiên một viên bi từ hộp (lấy xong không trả lại vào hộp). Tiếp đó đến lượt bạn Tùng lấy ngẫu nhiên một viên bi từ hộp đó. Tính xác suất để bạn Tùng lấy được viên bi màu xanh.

Lời giải chi tiết

Ta có tổng 14 viên bi, Sơn có 14 cách chọn 1 viên. Sau khi Sơn chọn, Tùng sẽ chọn 1 trong 13 viên bi còn lại.

Số cách chọn là 14.13 = 182.

A: “Sơn lấy màu xanh, Tùng lấy màu xanh”.

Công đoạn 1: Sơn lấy màu xanh có 8 cách (vì có 8 viên xanh).

Công đoạn 2: Tùng lấy màu xanh có 7 cách vì Sơn lấy xong không trả lại vào hộp.

Theo quy tắc nhân, tập A có 8.7 = 56 (phần tử).

⇒ P(A) = 56/ 182 = 4/13.

 

B: “Sơn lấy màu đỏ, Tùng lấy màu xanh”.

Công đoạn 1: Sơn lấy màu đỏ có 6 cách (vì có 6 viên đỏ).

Công đoạn 2: Tùng lấy màu xanh có 8 cách (vì có 8 viên xanh).

 

Theo quy tắc nhân, tập B có 6.8 = 48 (phần tử).

⇒ P(B) = 48/182 = 24/91.

 

C: “Bạn Tùng lấy được viên bi màu xanh” nên C = A ∪ B.

A và B là hai biến cố xung khắc (không thể đồng thời xảy ra) nên ta có:

 

P(C) = P(A) + P(B) = 4/13 + 24/91 = 4/7.

Vậy xác suất để bạn Tùng lấy được viên bi màu xanh là 4/7.

 

Bài 3:

Một khu phố có 50 hộ gia đình nuôi chó hoặc nuôi mèo, trong đó có 18 hộ nuôi chó, 16 hộ nuôi mèo và 7 hộ nuôi cả chó và mèo. Chọn ngẫu nhiên một hộ trong khu phố trên. Tính xác suất để:

a) Hộ đó nuôi chó hoặc nuôi mèo;

b) Hộ đó không nuôi cả chó và mèo.

Lời giải chi tiết

Gọi A là biến cố “Hộ đó nuôi chó”, B là biến cố “Hộ đó nuôi mèo”, C là biến cố “Hộ đó không nuôi cả chó và mèo”.

a) Xác suất hộ đó nuôi chó là

P(A) = 18/ 50 = 9/25

Xác suất hộ đó nuôi mèo là

P(B) = 16/50 = 8/25

Xác suất hộ đó nuôi cả chó và mèo là P(C) = 7/50

Xác suất để hộ đó nuôi chó hoặc nuôi mèo là

P(A ∪ B) = P(A) + P(B) − P(AB) = 9/25 + 8/25 − 7/50 = 27/50

 

b) Gọi D là biến cố “Hộ không nuôi cả chó lẫn mèo”.

⇒ P(D) = 1 − P(A ∪ B) = 1 − 27/50 = 23/50.

 

Trên đây là hướng dẫn giải Toán 11 chuyên đề xác suất. Để học tốt phần xác suất, bạn nên luyện tập thêm nhiều bài toán tương tự và chú ý xác định đúng mối quan hệ giữa các biến cố trước khi áp dụng công thức. Việc nắm vững nền tảng này sẽ giúp bạn giải nhanh và chính xác các bài toán xác suất trong chương trình Toán 11 cũng như các kỳ thi quan trọng. Để được tư vấn chi tiết về chiến lược chinh phục toán lớp 11, học sinh hãy liên hệ ngay tới Tự học 123.vn để được hỗ trợ nhanh nhất.

>> Trung tâm dạy Toán lớp 11 uy tín << 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *